Những cuộc thám hiểm đầu tiên của người châu Âu
KHÔNG CÓ TRONG KỲ THI Phần này đáng đọc, nhưng kỳ thi quốc tịch không bao giờ hỏi về nó.
Vào thế kỷ 17, các nhà thám hiểm châu Âu đã tìm ra một số phần của vùng đất mà họ gọi là ‘Terra Australis Incognita’ — vùng đất phương nam chưa được biết đến. Năm 1606, một người Hà Lan, Willem Janszoon, đã vẽ bản đồ bờ phía tây của Cape York Peninsula ở mũi phía bắc nước Úc. Vào khoảng thời gian này, một con tàu Tây Ban Nha do Luís Vaez de Torres chỉ huy đã đi qua eo biển ở phía bắc nước Úc.
Muộn hơn trong những năm 1600, các thủy thủ Hà Lan đã thám hiểm bờ biển Western Australia và gọi vùng đất này là ‘New Holland’.
Năm 1642, Abel Tasman tìm ra bờ biển của một vùng đất mới mà ông đặt tên là ‘Van Diemen’s Land’ (nay là Tasmania). Ông cũng vẽ bản đồ hàng nghìn dặm bờ biển nước Úc. Bản đồ chưa hoàn chỉnh của ông về New Holland cho thấy ông tin rằng vùng đất này nối liền với Papua New Guinea ở phía bắc.
William Dampier là người Anh đầu tiên đặt chân lên đất Úc. Năm 1684, ông đổ bộ lên bờ biển tây bắc. Vì vùng đất quá khô cằn và đầy bụi, ông cho rằng nơi này không có ích cho thương mại hay định cư.
Thuyền trưởng James Cook Cho đến khi người Anh James Cook đến bờ đông nước Úc năm 1770, vùng này vẫn chưa được người châu Âu thám hiểm. Cook được Chính phủ Anh cử đi trong một chuyến hải hành khám phá Nam Thái Bình Dương. Ông vẽ bản đồ bờ đông và cho tàu của mình, chiếc Endeavour, cập bến tại Botany Bay, ngay phía nam Sydney ngày nay. James Cook gọi vùng đất này là ‘New South Wales’ và tuyên bố chủ quyền nhân danh Vua George III.
Việc đày tù nhân Nước Úc độc đáo ở chỗ phần lớn những người châu Âu định cư đầu tiên là tù nhân. Sau khi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ giành độc lập, Anh Quốc không thể gửi tù nhân sang đó nữa và các nhà tù ở Anh trở nên rất chật chội. Năm 1786, Anh Quốc quyết định đưa một số tù nhân sang thuộc địa mới New South Wales.
Thuộc địa đầu tiên Thống đốc đầu tiên của thuộc địa New South Wales là Thuyền trưởng Arthur Phillip. Ông đưa 11 con tàu an toàn từ Anh sang phía bên kia thế giới, dẫn ‘First Fleet’ (Hạm đội Thứ nhất) vào Sydney Cove ngày 26 January 1788. Chính vào ngày kỷ niệm này mà mỗi năm chúng ta đánh dấu Australia Day.
Những năm đầu định cư Những năm đầu của việc định cư thuộc địa rất gian khổ. Để bảo đảm mọi người không bị đói, Thống đốc Phillip áp dụng cùng một khẩu phần cho tất cả, kể cả bản thân ông và các sĩ quan. Sự sáng suốt và quyết tâm của ông đã giúp thuộc địa sống sót qua những năm đầu khó khăn đó.
Các tù nhân lao động vất vả trong khu định cư ban đầu. Những người mãn hạn tù trở thành nam nữ tự do và hòa vào cộng đồng để làm việc và nuôi dạy gia đình.
Những cơ hội mới Dân số châu Âu ban đầu của Úc chủ yếu gồm người Anh, Scotland, Wales và Ireland. Người Scotland, Wales và Ireland từng thường xuyên có chiến tranh với người Anh, nhưng ở Úc, bốn nhóm này sống và làm việc gắn bó với nhau.
Tù nhân và cựu tù nhân bắt đầu tìm được những cơ hội mới trong thuộc địa. Một số cựu tù nhân tự lập nghiệp làm thương nhân. Những người khác thành công với nghề nông, thợ thủ công, chủ tiệm và chủ quán rượu.
Caroline Chisholm (1808–77)
Caroline Chisholm là một nhà cải cách xã hội hàng đầu, người đã cải thiện hoàn cảnh của phụ nữ độc thân trong các thuộc địa buổi đầu. Bà đến Úc cùng người chồng sĩ quan quân đội và năm người con vào năm 1838. Bà giúp đỡ những phụ nữ di dân đang sống lang thang trên đường phố Sydney. Chỉ trong vài năm, bà lập được 16 nhà trú cho phụ nữ di dân khắp thuộc địa.
Caroline nỗ lực cải thiện điều kiện sống trên các con tàu chở người đến các thuộc địa. Bà cũng sắp xếp một chương trình cho vay dành cho người cùng khổ nhằm giúp phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự lệ thuộc và nghèo đói.
Ngày nay, nhiều trường học ở Úc mang tên Caroline Chisholm. Bà được biết đến là ‘người bạn của di dân’ và được ghi nhớ vì những nỗ lực không mệt mỏi giúp người khác bắt đầu cuộc sống mới.
Thống đốc Macquarie Cùng với Thống đốc Phillip, Thống đốc Lachlan Macquarie giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử buổi đầu của chúng ta. Ông cai quản thuộc địa New South Wales từ năm 1810 đến 1821, phát triển nơi này thành một khu định cư tự do chứ không phải một thuộc địa tù nhân. Ông cải thiện phương thức canh tác, xây đường mới và các công trình công cộng, đồng thời khuyến khích việc thám hiểm nước Úc.
Thống đốc Macquarie cũng đầu tư tiền vào giáo dục và tôn trọng quyền của những cựu tù nhân. Ông giao cho một số cựu tù nhân công việc thẩm phán và công chức.
Thống đốc Macquarie được lịch sử ghi công vì những thay đổi tích cực mà ông mang lại cho thuộc địa. Macquarie University ở New South Wales được đặt theo tên ông.
Di sản tù nhân Người ta cho rằng chức vụ Thống đốc có quá nhiều quyền lực đối với một người, nên năm 1823, New South Wales Legislative Council (Hội đồng Lập pháp New South Wales) được thành lập để cố vấn cho vị Thống đốc kế tiếp và cải cách thuộc địa.
Anh Quốc ngừng đưa tù nhân đến New South Wales năm 1840, đến Tasmania năm 1852 và đến Western Australia năm 1868. Tổng cộng, hơn 160,000 tù nhân đã bị đày sang Úc. Sự chia rẽ giữa cựu tù nhân và những người định cư dần dần biến mất. Từ những năm 1850, các cư dân thuộc địa đã tự quản và muốn xây dựng những xã hội đáng kính. Nhiều người Úc đã trở nên tự hào về di sản tù nhân của mình.
Các dân tộc Aboriginal và Torres Strait Islander sau khi người châu Âu định cư Năm 1788, khi người châu Âu bắt đầu định cư, ước tính có từ 750,000 đến 1.4 triệu người Aboriginal và Torres Strait Islander ở Úc. Con số này gồm khoảng 250 quốc gia riêng biệt và hơn 700 nhóm ngôn ngữ.
Khi lập các thuộc địa ở Úc, Chính phủ Anh đã không ký hiệp ước với người Aboriginal. Nhà chức trách Anh tin rằng họ có quyền hợp pháp chiếm giữ vùng đất này.
Các dân tộc Aboriginal và Torres Strait Islander có nền kinh tế riêng và mối liên hệ lâu đời, bền bỉ với đất đai. Nơi họ từng sống theo luật lệ của chính mình, nay họ bị buộc phải chấp nhận luật lệ của những người mới đến. Những người mới đến này không được mời và nhìn chung không được chào đón.
Cuộc sống của các dân tộc Aboriginal và Torres Strait Islander đã thay đổi sâu sắc do sự xuất hiện của những người thực dân Anh. Nhiều sinh mạng bị mất và đất đai bị chiếm khi những người thực dân tìm cách áp đặt trật tự xã hội, kinh tế và tôn giáo mới. Nhiều loài vật, cây cối và bệnh tật mới được đưa vào.
Các thống đốc buổi đầu được lệnh không được làm hại người Aboriginal, nhưng những người định cư Anh vẫn tiến vào đất của họ và nhiều người Aboriginal đã bị giết. Những người định cư thường không bị trừng phạt vì các tội ác đó.
Một số người Aboriginal và người định cư châu Âu đã có thể chung sống hòa bình. Một số người định cư thuê người Aboriginal làm việc ở các trang trại cừu và bò. Thống đốc Macquarie đã cấp cho người Aboriginal đất riêng để canh tác và lập một trường học cho trẻ em Aboriginal. Tuy nhiên, rất ít người Aboriginal muốn sống theo cách của người định cư, vì họ không muốn đánh mất truyền thống văn hóa của mình.
Nhiều người Aboriginal đã bị giết trong các cuộc tranh giành đất đai. Tuy không rõ con số chính xác, ước tính hàng trăm nghìn người Aboriginal đã chết. Một số lượng còn lớn hơn nữa chết vì những bệnh tật mà người châu Âu mang đến đất nước này. Tổn thất nhân mạng của người Aboriginal là thảm khốc.
Trích từ Australian Citizenship: Our Common Bond, tài liệu chính thức